Kỹ thuật trồng

Cách phòng và trị bệnh gỷ sắt trên cây cà phê

Bệnh gỷ sắt (Hemileia vastatrix Berkeley & Broome)
* Triệu chứng 
Đầu tiên ở mặt dưới lá có những chấm nhỏ, màu vàng lợt như những giọt dầu và chỉ
thấy ở mặt dưới lá. Sau đó các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiện những bột màu vàng 
cam, đó là bào tử của nấm gỷ sắt. Bào tử chuyển dần sang màu trắng từ trung tâm ra ngoài 
và cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy. Các vết cháy có thể kiên kết với nhau 
thành các vết cháy lớn, dẫn dến việc cháy toàn bộ lá và lá rụng. Nếu bệnh nặng cây có thể
rụng hết lá dẫn đến hiện tượng khô cành, sản lượng kém và chết.

Ảnh: Triệu chứng gỷ sắt trên lá cà phê.


* Nguyên nhân, tác hại :
Bệnh gỷ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatrix Berkeley & Broome gây hại. Đây là 
loại nấm chuyên tính chỉ ký sinh trên cà phê. 
Bệnh có thể xuất hiện quanh năm, nhưng thường gây hại nặng vào mùa mưa.
* Biện pháp phòng trừ
+ Dùng giống kháng bệnh do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên 
cung cấp (TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR13) là một biện pháp có hiệu quả cao 
trong việc phòng trừ bệnh gỷ sắt. Trồng mới bằng cây ghép; ghép chồi để thay thế đối với 
cây bị bệnh gỷ sắt nặng.
+ Biện pháp sinh học
- Tạo điều kiện để nấm ký sinh bậc 2 Verticillium hemileiae Bouriquet (Verticillium 
lecanii Zimmerman) ký sinh và phát triển trên nấm gỷ sắt.
- Sử dụng thuốc sinh học Trichoderma viride (Biobus 1.00 WP).
+ Biện pháp hóa học
Các loại thuốc có thể thay đổi hàng năm. Tùy thuộc vào có tham gia các tổ chức sản 
xuất cà phê bền vững hay không để lựa chọn các thuốc được phép sử dụng trong danh mục:
- Không sản xuất cà phê chứng nhận: Sử dụng một trong các loại thuốc hoá học như: 
Diniconazole (Sumi - Eight 12.5 WP, Danico 12.5 WP); Difenoconazole + Propiconazole 
(Map super 300 EC, Tilt Super 300 EC); Hexaconazole (Anvil 5 SC); Propiconazole (Tilt 
250 EC), Tebuconazole + Trifloxystrobin (Nativo 750 WG), Tetraconazole (Domark 40 
ME)… 
- Sản xuất cà phê chứng nhận UTZ, RA: Diniconazole (Sumi - Eight 12.5 WP, 
Danico 12.5 WP); Difenoconazole + Propiconazole (Map super 300 EC, Tilt Super 300 
EC); Hexaconazole (Anvil 5 SC); Propiconazole (Tilt 250 EC), Tebuconazole + 
Trifloxystrobin (Nativo 750 WG), Tetraconazole (Domark 40 ME)… 
- Sản xuất cà phê chứng nhận 4 C: Sử dụng một trong các loại thuốc: Diniconazole
(Sumi-eight 12.5 WP; Danico 12.5 WP)…

Ảnh : Triệu chứng gỷ sắt trên quả cà phê.

Chỉ phun thuốc đối với các cây bị bệnh gỷ sắt gây hại. Thời điểm phun lần đầu khi 
cây có 10 % lá bị bệnh (thường xảy ra sau khi bắt đầu mùa mưa 2-3 tháng). Nồng độ phun 
theo hướng dẫn trên bao bì, phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Chú ý phun kỹ vào 
dưới mặt lá, ướt đều các lá trên cây.

                                                     Trích dẫn tài liệu WASI của Thạc Sỹ Phạm Công Trí.